+84 - 8 - 3 99 55 666

Thêm nước để cải thiện khẩu phần hỗn hợp

Thêm nước để cải thiện khẩu phần hỗn hợp

Nên thêm nước, nhưng cần hạn chế đừng dùng quá mức

Thêm nước vào khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh (TMRs) đã trở thành một khuyến cáo được chấp nhận rộng rãi để hạn chế gia súc phân loại thức ăn trong thời gian ăn. Chính vì lẽ đó, có một số khuyến cáo liên quan đến độ ẩm “lý tưởng” cho khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh (TMRs), một số trong đó có vẻ mâu thuẫn với nhau. Vì vậy, các đề xuất này đến từ đâu, và đâu là những nghiên cứu thực tế đứng đằng sau những khuyến cáo này?

Thêm nước và dùng nguyên liệu ẩm ảnh hưởng lượng tiêu thụ thức ăn

Có nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra rằng lượng tiêu thụ thức ăn ủ chua, cũng như khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh có chứa thức ăn ủ chua, giảm khi độẩm của thức ăn ủ chua giảm, và việc bổ sung quá nhiều thành phần ẩm ướt như hạt bia ướt có thể hạn chế khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh tiêu thụ đối với cả bò lấy thịt và bò lấy sữa. Những nghiên cứu này dường như là cơ sở chính cho ý kiến rằng độẩm khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh được tối ưu hóa khi chiếm khoảng 60% chất khô (DM), và không nên tụt xuống dưới 50% nếu độ cần bổ sung độ ẩm để giảm hành vi phân loại.

Tuy nhiên, một cuộc tìm kiếm các tài liệu khoa học từ 50 năm qua cho thấy, có rất ít nghiên cứu đã kiểm tra ảnh hưởng của việc thêm nước vào một thức ăn thô hoặc khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh đối với lượng thức ăn tiêu thụ và hiệu suất trong bò đang lấy sữa. Trong số này, vào năm 1961, Thomas et al. với USDA tại Beltsville, Maryland cho thấy rằng việc thêm nước cho cỏ khô hoặc ủ chua héo, giảm hàm lượng chất khô xuống còn 22%, không ảnh hưởng xấu đến sự tiêu thụ của bò cái tơ sữa, và trong một số trường hợp tăng lượng tiêu thụ. Trong cùng nghiên cứu đó, cũng như các nghiên cứu tiếp theo, cho thấy hàm lượng VFAs và những thành phần phát sinh từ quá trình lên men trong thức ăn ủ chua, cũng như các đặc tính dinh dưỡng của thức ăn ướt ảnh hưởng lên lượng trực tiếp đến tiêu thụ, chứ không phải độ ẩm.

Robinson et al. (1991), từ Trạm Nghiên cứu Nông nghiệp Fredrickson NB, tìm thấy rằng “lượng chất khô tiêu thụ và sản lượng sữa và thành phần sữa không bịảnh hưởng bởi độẩm của khẩu phần hỗn hợp…” khi nước được thêm vào khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh bằng cách ngâm hỗn hợp ngũ cốc của khẩu phần trong 24 giờ để đạt được hàm lượng chất khô 35%, 45% và 60% “. Trong một phân tích trên nhiều nghiên cứu liên quan đến việc nuôi dưỡng một loạt các thức ăn thô xanh như cỏ khô và héo ủ chua, cũng như ngôủ chua, Holter và Urban (1992) tại trường Đại học New Hampshire tìm thấy “không có mối quan hệđáng kể giữa hàm lượng chất khô của chế độ ăn uống và kết quả lượng ăn tự do ở bò cạn sữa hoặc bò đang lấy sữa”.

Các kết quả trên dẫn đến một kết luận rằng chỉ cần chất lượng thức ăn thô và khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh tốt, việc thêm nước uống sẽ không gây ảnh hưởng xấu đến tiêu thụ. Trường hợp khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh dễ bị phân loại có thể ít rõ ràng hơn.

Thêm nước ảnh hưởng sự phân loại thức ăn

Việc thêm nước trực tiếp hoặc bằng nguyên liệu ướt (ví dụ như thức ăn ủ chua, các loại ngũ cốc chưng cất ướt) thường được chấp nhận là điều cần thiết để giảm thiểu phân loại của các hạt từ thức ăn thô xanh trong khẩu phần hỗn hợp. Mặc dù bằng chứng khoa học hiếm hoi, giai thoại lại ủng hộ mạnh mẽ. Nhóm DeVries tại cơ sở Kemptville ON của Đại học Guelph đã chỉ ra rằng việc thêm nước, cũng như thức ăn chất lỏng có chứa mật đường, tái phân phối hạt mịn và tinh bột thành các phân số kích thước hạt lớn hơn được phân loại theo bộ phân cách hạt Penn State. Một nghiên cứu hàng đầu của Leonardi et al. (2005) tại Đại học Wisconsin-Madison cho thấy giảm các hàm lượng chất khô của một khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh tương đối khô từ 81% đến 64% bằng cách thêm nước, “giảm phân loại và có xu hướng tăng lượng tiêu thụ chất xơ tẩy trung tính và tỷ lệ phần trăm chất béo sữa”, trong khi lượng tiêu thụ chất khô và sữa sản xuất không bịảnh hưởng.

Trong một nghiên cứu khác, Lahr et al. (1983) tại Đại học Minnesota cho gia súc đang cho sữa ăn trong 200 ngày đầu tiên của chu kỳ bốn khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh dựa trên cỏ linh lăng khô và ngôủ chua mà giống hệt nhau ngoại trừ độ ẩm do được bổ sung thêm nước ( 78, 64, 52 và 40% chất khô). Các tác giả báo cáo rằng lượng chất khô tiêu thụ giảm tương ứng với mức giảm trong hàm lượng chất khô của khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh, mặc dù lượng tiêu thụ của khẩu phần chất khô 52 và 40 % là giống hệt nhau. Đồng thời, hàm lượng chất béo sữa tăng tương ứng với mức tăng trong độ ẩm của chế độ ăn uống, trong khi năng suất sản xuất sữa không khác nhau với độ ẩm của chế độ ăn uống. Bởi vì trọng lượng cơ thể ban đầu và cuối cùng, và cả sự thay đổi trọng lượng, không khác nhau giữa các phương pháp điều trị, nó dẫn đến kết luận chắc chắn rằng hiệu quả thức ăn, và nhiều khả năng là cả sự tiêu hóa, được cải thiện với việc bổ sung độ ẩm. Khi xét đến hàm lượng cỏ khô trong chế độ ăn uống, có thể những kết quả này một phần là do sự giảm phân loại thức ăn như quan sát của Leonardi et al., mặc dù các tác giảđã không nghiên cứu cũng như nhận xét về hành vi ăn của gia súc.

Hai nghiên cứu mới đây của nhóm DeVries đã gợi ý rằng việc thêm nước để tăng độ ẩm trong khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh có thể làm tăng sự phân loại đối với các hạt dài hơn nằm lại tầng trên cùng của bộ phân loại hạt Penn State. Trong những nghiên cứu này, một số lượng nhỏ bò trong giai đoạn sau cao điểm đến giữa thời gian có sữa được cho ăn bằng  khẩu phần bao gồm cỏ linh lăng ủ và ngô ủ chua (tức là chỉ có thức ăn thô ẩm, không có cỏ khô) với hàm lượng chất khô ban đầu 56-58 %, đã được giảm xuống còn 44-48 % chất khô bằng cách thêm nước. Trái với dự đoán, việc thêm nước thực sự tăng sự phân loại đối với các hạt dài hơn nằm lại tầng trên cùng của bộ phân loại hạt Penn State, trong khi lượng tiêu thụ chất khô giảm mất 11 và 17%. Tuy nhiên, cóít khả năng việc giảm tiêu thụ chất khô là kết quả của tăng phân loại thức ăn vì phân loại gây giảm tiêu thụ của nguyên liệu trên ở tầng trên cùng đi 9%, và những nguyên liệu này chỉ chiếm khoảng 9% và 3% tổng chế độ ăn uống dành cho chất khô. Hơn nữa, năng suất sản xuất và thành phần sữa không khác nhau giữa các chếđộ cho ăn khác nhau, điều này cho thấy sự cải thiện trong việc tiêu hóa và mức độ hiệu quả, tương tự như Lahr et al., mặc dù trọng lượng cơ thể và thay đổi trọng lượng không được báo cáo.

Hai nghiên cứu tiếp theo (2012) của nhóm DeVries đã chỉ ra rằng việc thêm nước hoặc thức ăn lỏng có chứa mật đường vào những khẩu phần tương tự với những khẩu phần ở trên, khi cho bò ở cuối chu kỳ cho sữa và đầu chu kì cho sữa ăn sẽ không ảnh hưởng đến hoặc thậm chí cải thiện hành vi ăn uống (giảm phân loại thức ăn), lượng chất khô tiêu thụ và lượng sữa sản xuất.

Khuyến cáo cho thêm nước để cải thiện khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh:

Tóm lại, những bằng chứng cho thấy rằng việc thêm nước vào khẩu phần hỗn hợp là có lợi và cần thiết để giữ cho các thành phần không tách ra và bị gia súc phân loại ngũ cốc khỏi thức ăn thô trong quá trình ăn như đối với thức ăn khô (ví dụ như> 60% chất khô) có chứa một lượng đáng kể cỏ khô hoặc các loại thức ăn thô khác. Tuy nhiên, có thể có một trường hợp đặc biệt, dựa trên nguyên cứu của DeVries, khi thành phần thức ăn có đủ một độ ẩm nhất định, việc thêm nước có thể tăng khả năng phân loại thức ăn của gia súc đối với các hạt có kích cỡ đủ lớn để nằm lại tầng trên cùng của bộ phân loại hạt Penn State. Độ quan trọng sinh học hoặc kinh tế của việc này vẫn chưa được xác định.

Giống như nhiều chuyên gia tư vấn, tác giả này đã rất thành công trong việc cải thiện các tình huống liên quan đến phân loại thức ăn của các khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh bằng cách thêm nước. Mặc dù các nhà sản xuất thường ngần ngại trước việc áp dụng phương pháp này, họ thường trở nên nhiệt tình khi họđã nhìn thấy kết quả. Sau đây là những hướng dẫn tôi thấy có khả năng thành công cao:

  1. Bắt đầu bằng cách tìm hiểu xem bò có vấn đề gì không. Chỉ vì kết quả sàng lọc cho thấy có phân loại thức ăn không nhất thiết nghĩa làđang có vấn đề, và ngược lại. Các chỉ số tốt nhất để nhận biết đang có vấn đề phân loại là:
  • Sự khác biệt giữa chất béo và protein trong thùng chứa nhỏ hơn 0,5
  • Có nhiều trường hợp bò có phân lỏng và bị nhiễm axit hơn, cũng như phân bị dồn bón,
  • Có sự gia tăng tỷ lệ mắc bện viêm móng và què quặt,
  • Kiểm tra hồ sơ của DHI cho thấy có sự gia tăng trong số lượng bò với chất béo thấp so với protein (ví dụ như protein trừ chất béo <= 0.1), đặc biệt là trong giai đoạn cuối cho sữa (> 200 DIM).
  1. Kiểm tra để xác nhận rằng gia súc đang thể hiện hành vi phân loại (ví dụ như đào hố, cuộn tròn thức ăn thô dài) trong quá trình ăn.
  2. Xem xét công thức khẩu phần ăn để đảm bảo rằng mức độ hạt ngũ cốc và tinh bột không quá cao và xem xét việc điều chỉnh giảm mức năng lượng (tăng thức ăn thô) hoặc thêm chất béo, để bù đắp cho hoạt động phân loại thức ăn.
  3. Thêm nước, bắt đầu từ 10lbs/4.5kg bình quân mỗi con bò mỗi ngày. Quan sát kết quả trong vòng bốn ngày cho đến một tuần. Nếu có những cải thiện trong hành vi ăn uống, độ cứng của phân và/hoặc độ béo của sữa, thêm 5lbs/2.3kg nước bình quân mỗi con bò mỗi ngày và quan sát những cải thiện tiếp theo. Tiếp tục thêm nước tại 5lbs/2.3kg bình quân mỗi con bò mỗi ngày cho đến khi không có thêm cải thiện hơn nữa, trong trường hợp này, tiếp tục với lượng nước trước đó cho đến khi khẩu phần ăn thay đổi.

(Tôi thấy rằng thêm nước vào hỗn hợp trên cơ sở mỗi đầu bò, sau khi khẩu phần ăn hỗn hợp được trộn, thành công hơn việc nhà sản xuất thêm nước vào theo tỷ lệ so với hỗn hợp trộn. Bằng cách này, việc theo dõi những thay đổi trong mức tiêu thụ của khẩu phần ăn hỗn hợp là dễ dàng hơn, cũng như dễ dàng tạo điều kiện cho các nhà sản xuất có thể tự quản lý việc thêm nước… “Because Nutrition Matters®”.)

Tiến sĩ Alan S. Vaage
Chuyên gia dinh dưỡng cho động vật nhai lại

 

Bài viết liên quan:

Khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh: Giải đáp thắc mắc

Khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh (TMR): Cách quản lý

Lỗi thường gặp khi áp dụng TMR

Sử dụng khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh cho bò sữa

Khẩu phần hỗn hợp hoàn chỉnh: Nhân tố thiết yếu trong chăn nuôi bò sữa

Skills

Posted on

23/05/2014